Thứ Sáu, 25 tháng 4, 2014

[Kinh tế-NDH.vn] - Cổ phần hóa: Cơ hội thứ 2 cho các quỹ nước ngoài

Trong 3 năm qua, Mekong Capital ngưng đầu tư mới. Thực tế, số doanh nghiệp Việt Nam đáp ứng được tiêu chí đầu tư của các quỹ hiện không nhiều.

Cơ hội thứ hai?

Những đơn vị thu hút sự chú ý của giới đầu tư ngoại như Vinamilk, FPT, Dược Hậu Giang, Cơ điện lạnh REE, Kinh Đô... đều đã hết giới hạn sở hữu (room) cho nhà đầu tư nước ngoài. Vì vậy, dòng tiền ngoại trông đợi cả vào việc Vietnam Airlines, Vinatex, VinaCement, MobiFone... chào bán cổ phần ra công chúng. Liệu đây có phải là cơ hội thứ hai cho thị trường vốn sau khi Việt Nam đã bỏ lỡ cơ hội cổ phần hóa lúc gia nhập WTO?

Đơn cử, trong các quỹ do Dragon Captail lập ra năm 2013, Quỹ DC Semeru Asia Equity High Yield Fund là những quỹ rất đặc thù, gọi vốn từ các chính phủ ở châu Âu, đầu tư vào năng lượng sạch với phạm vi đầu tư rộng khắp nhiều nước. Trong đó, Hồng Kông hiện chiếm 29% nguồn vốn phân bố của 2 quỹ, Trung Quốc là 19%, Singapore là 12%, Malaysia là 9%.

Việt Nam chưa nằm trong danh sách quốc gia được 2 quỹ ưu tiên chú ý. Qũy Vietnam Equity (UCITS) Fund vốn hiện chỉ mới đạt 8,54 triệu USD. Ông Dominic Scriven cho biết "Dragon Capital sẽ cố gắng mở rộng thêm quy mô quỹ này nhưng gọi vốn mới vào Việt Nam vẫn luôn khó khăn".

Đầu năm 2012, Dragon Capital từng ấp ủ ý định lập quỹ mới 100 triệu USD nhưng ước mong này không thành. Mekong Capital, VinaCapital cũng đặt mục tiêu lập quỹ mới với quy mô hàng trăm triệu USD trong giai đoạn 2012-2013 nhưng đã không thực hiện được.



"Trở ngại lớn nhất của việc gọi vốn mới là các quy định pháp lý ở những thị trường mà quỹ thành lập và được giao dịch", ông Dominic Scriven nhấn mạnh.

Đơn cử, các nước châu Âu ra quy định, chỉ nhà đầu tư chuyên nghiệp mới được mua chứng chỉ quỹ từ Việt Nam. Vì chỉ người chuyên nghiệp mới am hiểu và hạn chế được rủi ro khi đầu tư vào những sản phẩm quá mạo hiểm ở các thị trường mới nổi như Việt Nam. Những quy định như vậy đã được ban hành kể từ sau cuộc khủng hoảng nợ dưới chuẩn xuất hiện năm 2008 nhằm bảo vệ nhà đầu tư.



Hoặc chính quyền Mỹ yêu cầu các quỹ đầu tư muốn gọi vốn từ nhà đầu tư Mỹ phải lo luôn nhiệm vụ truy thu thuế cho Mỹ. Đây là nhiệm vụ rất phức tạp nên Dragon Capital đành từ chối nhà đầu tư từ Mỹ.

Tính ra, các quỹ đóng ở Việt Nam chỉ có thể huy động vốn từ nhà đầu tư châu Á. Tất cả đã khiến các quỹ dạng đóng ở Việt Nam gần như bế tắc khi gọi vốn mới.

Trước tình hình đó, ngày 14/6/2013, SAM chính thức chuyển đổi 2 quỹ VEH, Vietnam Property Holding (VPH) từ hình thức quỹ đóng sang quỹ tương hỗ. Hình thức quỹ mới này cho phép SAM đầu tư linh hoạt hơn và nhà đầu tư có thể yêu cầu SAM mua lại đến 10% tổng cổ phiếu quỹ ngay sau một năm giao dịch.

Tuy nhiên, theo ông Dominic Scriven, việc chuyển đổi từ quỹ đóng sang quỹ mở có những khó khăn nhất định, nhất là về vấn đề thanh khoản, bán cổ phần tại các đơn vị chưa niêm yết.

Ngoài ra, vì đã gia hạn thêm thời gian giữa hai lần biểu quyết lên 3 năm (với quỹ VPG) và 5 năm (với quỹ VEIL) nên Dragon Capital chỉ có thể trình bày vấn đề chuyển đổi sang quỹ mở cho VGF vào năm 2015 và cho VEIL vào năm 2017.

Thách thức cho các quỹ đầu tư ngoại ở Việt Nam còn ở tìm kiếm cơ hội đầu tư mới. Theo xác nhận của ông Chris Freund, Tổng giám đốc Mekong Capital, trong 3 năm qua, Mekong Capital ngưng đầu tư mới. Thực tế, số doanh nghiệp Việt Nam đáp ứng được tiêu chí đầu tư của các quỹ hiện không nhiều.

Những đơn vị thu hút sự chú ý của giới đầu tư ngoại như Vinamilk, FPT, Dược Hậu Giang, Cơ điện lạnh REE, Kinh Đô... đều đã hết giới hạn sở hữu (room) cho nhà đầu tư nước ngoài. Một số công ty tăng trưởng tốt như PVGas tuy còn room nhưng cổ đông lớn ở PVGas lại không muốn bán.

Với các khoản đầu tư vào công ty tư nhân, dù các quỹ luôn phải làm việc rất nhiều nhưng rủi ro định giá sai vẫn lớn và đôi bên dễ "không gặp nhau". Quỹ VOF từng có kế hoạch đầu tư khoảng 100 triệu USD vào 4 công ty nhưng theo ông Andy Ho, khả năng thành công của các khoản đầu tư này chỉ vào khoảng 20%.

Một số quỹ đầu tư đang trông đợi vào những hàng hóa mới, phong phú và chất lượng từ chương trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước được đẩy mạnh trong giai đoạn 2014-2016. Theo kế hoạch, trong 12 tháng tới, nhiều công ty lớn như Vietnam Airlines, Vinatex, MobiFone... sẽ chào bán cổ phần ra công chúng.

VinaCapital gọi đây là cơ hội thứ 2 cho thị trường vốn sau khi Việt Nam đã bỏ lỡ cơ hội từ lần cổ phần hóa thời điểm Việt Nam gia nhập WTO vào năm 2007.

Tuy nhiên, ông Chris Freund lại tỏ ra e dè: "Dù từng có những trường hợp ngoại lệ như ở Vinamilk, Traphaco nhưng tôi nhận thấy, sau cổ phần hóa, nhiều doanh nghiệp vẫn do Nhà nước nắm quyền chi phối và họ vẫn hoạt động nặng tính chất của một doanh nghiệp nhà nước".



Ông Dominic Scriven thì nhìn nhận việc nới room, tạo sản phẩm tái sinh hay cổ phần hóa sẽ gia tăng số lượng cơ hội cho các quỹ nhưng không vì thế mà hoạt động của các quỹ sẽ hết khó khăn.

Trong thư gởi nhà đầu tư, ông Steven Bates, Chủ tịch Quỹ VOF, bày tỏ, không hiểu tại sao chênh lệch giữa NAV/CCQ và thị giá CCQ (discount) vẫn lớn dù NAV/CCQ và thị giá CCQ của VOF tiếp tục tăng và ban điều hành đã nổ lực thu hẹp discount.

Tính ra, từ lúc áp dụng chương trình mua lại cổ phiếu quỹ (tháng 10/2011) đến tháng 2/2014, VOF đã chi ra hơn 148 triệu USD để mua lại 79 triệu cổ phiếu quỹ (khoảng 24% tổng cổ phiếu quỹ của VOF), giúp NAV/CCQ có thêm 33 cent.

Từ đây, discount của VOF từ mức 42% thu hẹp về mức 20,4%. Các quỹ khác cũng thực thiện chiến lược mua lại cổ phiếu quỹ nhưng discount trung bình vẫn trên 20%. Ông Dominic Scriven xác nhận, con số discount này "rất lớn và đầy khó chịu, cho thấy lòng tin của nhà đầu tư vào Việt Nam vẫn chưa được phục hồi".

Cũng vì lý do này, đầu tháng 2/2014, Dragon Capital đã quyết định gộp 2 quỹ đầu tư trái phiếu Việt Nam (VDeF-A và VDeF-B) lại thành một quỹ chung cho cả đầu tư trái phiếu chính phủ lẫn trái phiếu doanh nghiệp. Việc gộp quỹ đã giúp quỹ đầu tư được thuận lợi nhưng không phủ nhận đó là sự tinh gọn, nhằm tiết kiệm chi phí quản lý quỹ.

Thách thức cho các quỹ ngoại hoạt động ở Việt Nam còn ở khía cạnh VN-Index tuy đã tăng trưởng trở lại ở mức 22% năm 2013 và 16% trong 2 tháng đầu năm 2014 nhưng đà tăng này cũng chỉ mới giúp chỉ số lấy lại 50% so với thời kỳ đỉnh cao. Ngoài ra, theo ông Dominic Scriven, những khó khăn mà Việt Nam gặp phải trong 5 năm qua vẫn còn. Đáng lo là tăng trưởng tín dụng vẫn rất thấp.

Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước, đến ngày 31/3/2014, tín dụng chỉ mới tăng 1% so với cuối tháng 2 và tăng 0,01% so với cuối năm 2013. Ông Chris Freund lo ngại tệ tham nhũng và tình trạng thiếu các nhà quản lý chuyên nghiệp, giỏi, hiểu rõ và có thể thực hiện thành công các thông lệ toàn cầu là trở ngại lớn, dễ khiến Việt Nam mất điểm trong cạnh tranh thu hút vốn quốc tế.



0 nhận xét:

Đăng nhận xét